Chúng ta đang hiểu sai về Tết 23 tháng Chạp: Không phải ông Công ông Táo, mà là cúng thần bếp

Sự kiện: Tết Bính Ngọ 2026

Thực chất 23 tháng Chạp không phải ngày cúng ông Công ông Táo mà là cúng thần Bếp, liên quan đến tục thờ lửa và thờ Mẫu, tôn vinh phụ nữ giữ lửa trong gia đình.

Hôm nay, 23 tháng Chạp, nhà nhà lo việc cúng cái Tết từ lâu được dân gian gọi là “Tết ông Công ông Táo” và giải thích ý nghĩa là “ngày Táo quân cưỡi cá chép vàng lên trời báo cáo với Ngọc hoàng các công việc của gia đình trong năm và cả những điều tai nghe mắt thấy ở trần gian; tất cả những việc tốt, việc xấu, những gì đã làm được và chưa làm được của con người dưới hạ giới”.

Các gia đình đều mua 3 bộ mã (hai bộ đàn ông tượng trưng cho hai Táo ông và một bộ đàn bà tượng trưng cho Táo bà) và một hoặc ba con cá chép vàng được thả trong chậu nước để ông Táo cưỡi về trời. Sau lễ cúng gia tiên, họ đem hóa bộ mã của năm cũ và thả cá chép vàng xuống giếng (giếng chung của làng xóm) hoặc ra ao, hồ, sông.

Thực ra, yếu tố “Táo quân”, “Ngọc hoàng” gắn với Đạo giáo xuất hiện ở nước ta khá muộn (các nguồn sử liệu đều chép vào thế kỷ II Công nguyên, nhưng tài liệu của chúng tôi là vào thế kỷ I trước Công nguyên).

Các nhà nghiên lừng danh đi trước (Từ Chi, Trần Quốc Vượng, Vũ Ngọc Khánh ...) và thế hệ chúng tôi tiếp bước đã chỉ rõ, thực chất ngày 23 tháng Chạp là ngày cúng thần Bếp, liên quan đến tục thờ lửa và thờ Mẫu, tôn vinh phụ nữ có công giữ lửa trong gia đình, có ở nhiều tộc người (lửa được người tiền sử phát hiện cách đây gần 800.000 năm, song phụ nữ là người tìm ra cách tạo lửa và giữ lửa).

Mâm cỗ ngày 23 tháng Chạp trong đời sống hiện đại có vàng mã, cá, đồ ăn ngọt - mặn... (Ảnh: Vu Thu Huong)

Mâm cỗ ngày 23 tháng Chạp trong đời sống hiện đại có vàng mã, cá, đồ ăn ngọt - mặn... (Ảnh: Vu Thu Huong)

Xưa kia, ở nông thôn (và cả một phần đô thị), người ta đun nấu bằng bếp rơm, rạ (ở đô thị chủ yếu đun bằng củi và trấu). Mỗi nồi được đặt trên ba ông vua bếp (ông đầu rau) nặn bằng đất sét. Vì đun rơm, rạ và củi, nhà chủ yếu là lợp tranh hay rạ, dễ xảy ra hỏa hoạn, các gia đình phải lập bàn thờ thần Bếp để cầu mong sự yên lành cho bếp, cũng cầu mong cho gia đình luôn được sung túc.

Bàn thờ thần Bếp thường là tấm gỗ treo ở tường gian giữa của bếp, cách xa mái tranh để phòng hỏa hoạn khi thắp hương. Trên bàn thờ chỉ có một bát hương. Về sau, có lẽ do thường xảy ra hỏa hoạn vì không cẩn thận khi thắp hương và do không tiện lợi nên phần đông các gia đình đã bỏ bàn thờ thần Bếp (hay nhập với bàn thờ gia tiên; hoặc chỉ thờ vua bếp/có thể là hòn đá thiêng ở cạnh bếp?).

Tại nhiều làng xã ở các huyện Quốc Oai, Thạch Thất (tỉnh Sơn Tây, nay thuộc Thành phố Hà Nội) - vùng Việt, Mường cổ, đến đầu thập niên 1960 vẫn còn nhiều gia đình có bàn thờ thần Bếp. Tại các làng người Thổ - tộc người có cùng nguồn gốc với người Việt và người Mường ở tỉnh Nghệ An (khu vực huyện Nghĩa Đàn cũ), đến năm 2013, tôi khảo sát vẫn còn nhiều gia đình có bàn thờ thần Bếp treo ở tường gian giữa của bếp và ngày 23 tháng Chạp vẫn sửa lễ thắp hương tại đây.

Ở người Mường (vùng các huyện Cao Phong, Kỳ Sơn của tỉnh Hòa Bình cũ, nay là tỉnh Phú Thọ) vào ngày 22 tháng Chạp (ứng với ngày 23 cùng tháng của người Việt), từ cuối thập niên 1960 trở về trước, các gia đình phải sửa lễ cúng vua bếp ở chạn (là khoảng sàn gỗ, hoặc cây bương), từ bậc thang cuối cùng từ mặt đất lên đến trước cửa ra vào của ngôi nhà), để cầu mong cho người được khỏe mạnh, nhà cửa được yên ổn, nhất là không xảy ra hỏa hoạn.

Khi cúng thì bày một mâm lễ có gà, cá hoặc thịt lợn, xôi, 3 chiếc bát, 3 đôi đũa, 2 chén rượu, 2 chén nước lã. Người làm lễ đứng ở phía trên chạn, hướng về phía dưới (phía khoảng không gian và khoảng đất có cầu thang).

Theo lệ từ xưa, mỗi năm gia đình phải một lần thay các ông vua bếp, trước hết nhằm tạo ra sự chắc chắn, an toàn, vì vua bếp sau một năm đun nấu không tránh khỏi nhiều lần nước ở các nồi đun trào xuống đúng lúc vua bếp đang chịu sức nóng của lửa, gây nứt nẻ, thậm chí có thể làm vỡ, cần phải thay thế vào dịp cuối năm. Thay vua bếp mới còn có mục đích và niềm tin là mong sự mới mẻ, tốt lành cho bếp.

Tranh Đông Hồ "Táo Quân". (Ảnh: Tranh dân gian Đông Hồ)

Tranh Đông Hồ "Táo Quân". (Ảnh: Tranh dân gian Đông Hồ)

Để thay vua bếp, thường từ mồng 10 tháng Chạp trở đi, các gia đình phải lấy đất sét ở ruộng hoặc ao về nặn, phơi ra chỗ có nhiều nắng gió để nhanh khô, nhiều khi phải “giở” (quay các mặt của vua bếp) về phía có nắng, gió để khô đều. Đến ngày 23 tháng Chạp, người ta thay các ông vua bếp cũ bằng các ông vua bếp mới đã khô sau nửa tháng, rồi làm lễ cúng thần Bếp và cúng gia tiên ở trên nhà.

Như vậy, ngày 23 tháng Chạp thực chất là ngày cúng thần Bếp - vị thần cai quản các công việc bếp núc trong nhà, không chỉ là chuyện cơm ăn hàng ngày, mà còn là hòa khí trong nhà, cả sự an toàn của ngôi nhà - cũng là của gia đình, liên quan tới lửa củi, đun nấu.

Đây cũng là ngày tôn vinh lửa - nguồn nhiêu liệu bất diệt của sự sống và tôn vinh phụ nữ - những người có công tìm ra cách tạo lửa và giữ lửa (vì vậy, phụ nữ từ xa xưa đã đảm nhiệm thiên chức lo việc bếp núc, nội trợ, cũng vì thế mà mang sứ mệnh “giữ lửa” cho gia đình, cả nghĩa đen và nghĩa bóng).

Tục cúng thần Bếp có từ rất xa xưa ở người Việt và nhiều tộc người thiểu số trên đất nước ta cũng như nhiều cộng đồng cư dân nông nghiệp, trước khi các yếu tố văn hóa Hán/Trung Quốc xâm nhập. Trước Công nguyên khoảng trên dưới 100 năm, Đạo giáo ở Trung Quốc, với quan niệm vũ trụ về Ngọc hoàng và các bộ hạ (các táo) mới vào Việt Nam, từ đó hình thành quan niệm ngày 23 tháng Chạp, các Táo (trong đó có Táo trông coi việc bếp núc) cưỡi cá chép lên Thiên đình tâu - cáo với Ngọc hoàng về công việc dưới trần gian trong năm. Kèm theo quan niệm này là tục các gia đình mua bộ vàng mã “ông Công ông Táo” (một bà hai ông) để hóa và đôi cá chép vàng để thả ra ao (hồ, sông) sau lễ gia tiên, tượng trưng cho các Táo lên tâu Ngọc hoàng.

Người dân sắm lễ tại chợ Hàng Bè. (Ảnh: Minh Đức)

Người dân sắm lễ tại chợ Hàng Bè. (Ảnh: Minh Đức)

Tuy nhiên, trên thực tế, Đạo giáo khi xâm nhập vào Việt Nam chỉ phát triển mạnh ở các đô thị (do cư dân bác tạp, sống bằng nhiều nghề, điều kiện học hành giao lưu rộng hơn, điều kiện kinh tế khá hơn…) nên chỉ có cư dân ở đây (chủ yếu ở các gia đình sống tại trung tâm nội đô giàu có từ buôn bán và làm nghề thủ công) mới theo tục mua đồ “ông Công ông Táo” để đốt và mua cá vàng thả; còn cư dân nông thôn và cả một bộ phận đông cư dân đô thị nghèo, ở xa trung tâm thường chỉ có tục thay vua bếp và cúng gia tiên một cách đơn giản, do đời sống rất khó khăn.

Thời bao cấp, phần vì kinh tế thiếu thốn, phần vì chủ trương “chống mê tín dị đoan” nên tục mua đồ “ông Công ông Táo” để đốt và mua cá chép vàng để thả bị hạn chế tới mức thấp nhất, chỉ thấy ở số ít gia đình tại các thành phố, thị xã và một phần các thị trấn.

Từ đầu thập niên 1990 trở đi, kinh tế thị trường phát triển, đời sống được nâng lên, hai tục trên thịnh hành rộng rãi ở cả một bộ phận đông cư dân nông thôn. Tuy nhiên, việc phục hồi, phát triển “Tết ông Công ông Táo” ngày nay đang bộc lộ rất nhiều bất cập.

Một là, việc đốt đồ mã phổ biến ở đại đa số các gia đình nông thôn, đốt mã quá nhiều: Ngoài bộ “ông Công ông Táo”, nhiều gia đình còn sắm để đốt rất nhiều đồ mã khác, như tiền vàng, các đồ dùng thường ngày; gây ô nhiễm môi trường xung quanh gia đình mình, nhiều khi vì đốt mã mà gây mất hòa khí xóm giềng; có những trường hợp đốt mã gây hỏa hoạn, cháy nhà, chết người.

Hai là việc mua và thả cá chép. Trong ngày 23 tháng Chạp ngày nay, cá chép vàng được thay bằng cá chép đỏ, từ đó xuất hiện nhiều làng - xã chuyên nuôi cá chép đỏ để bán trong dịp này; hình thành một số chợ đầu mối chuyên nhập và bán cá chép đỏ, góp phần giúp các địa phương trên phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc thả cá chép đang gây nhiều bất cập, như thả cá (cả túi nylon) vào các ao, hồ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, làm ô nhiễm thêm. Nhiều người không thả cá theo nghi thức phóng sinh mà ném cả túi nylon đựng cá. Không ít trường hợp cá vừa thả xuống đã có người đứng trực để vớt về bán.

Tóm lại, nguồn gốc và bản chất của Tết 23 tháng Chạp là tục cúng thần Bếp, xuất hiện từ thời kỳ chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò lớn trong đời sống gia đình, xã hội và cả quan hệ hôn nhân (lấy nhiều chồng/một bà hai ông). Các từ “Táo quân”, “Ngọc hoàng”, “ông Công, ông Táo” và các tục gắn với chúng mới xuất hiện chừng trên dưới 100 năm trước Công nguyên, khi Đạo giáo từ Trung Quốc xâm nhập Việt Nam. Cần nhận thức rõ vấn đề này để có một hành xử đúng.

Trước hết, về tên gọi, không nên gọi là “Tết ông Công, ông Táo”, mà gọi là “Tết 23 tháng Chạp” hay “Tết cúng thần Bếp” để có hành xử đúng, như không mua đồ “ông Công” cùng vàng mã về cúng sau đó đốt (lấy tiền thật mua tiền giả, đồ giả để đốt). Hạn chế mua cá chép về cúng (nhiều người để 3 con cá chép trong chậu nước đặt trên ban thờ cúng là không đúng, vì cá không sạch), rồi thả xuống sông hồ; chỉ nên phóng sinh cá vào những nơi cá có thể sống được.

Thay vì những suy nghĩ và việc làm không có lợi trên đây, vào ngày này, các gia đình cần tranh thủ dọn dẹp lại nhà cửa, nhất là khu vực bếp, kiểm tra lại độ an toàn của bếp (bếp ga, bếp từ), bao sái ban thờ để chuẩn bị đón Tết, không nên để đến sát Tết mới tiến hành, rất cập rập.

Thả cá mà cá chết ngay sau đó, hoặc thả kèm rác thải khiến môi trường thêm ô nhiễm, thì hành động ấy khó có thể gọi là trọn vẹn thiện lành.

Chia sẻ
Gửi góp ý
Lưu bài Bỏ lưu bài
Theo PGS. TS Bùi Xuân Đính ([Tên nguồn])
Tết Bính Ngọ 2026 Xem thêm
Báo lỗi nội dung
GÓP Ý GIAO DIỆN