Quy trình bỏ phiếu và kiểm phiếu bầu cử được thực hiện như thế nào?

Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc lựa chọn người đại diện cho mình. Để bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, công khai, minh bạch, pháp luật đã quy định chặt chẽ về quy trình bỏ phiếu và kiểm phiếu. Những quy định này được nêu rõ trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025) cùng các hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia và Ủy ban bầu cử các cấp.

Quy trình bỏ phiếu được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm quyền của cử tri

Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bỏ phiếu phải được tiến hành công khai, đúng trình tự và bảo đảm nguyên tắc bỏ phiếu trực tiếp, bình đẳng và bỏ phiếu kín.

Quy trình bỏ phiếu và kiểm phiếu bầu cử được thực hiện như thế nào. Ảnh: Trần Anh.

Quy trình bỏ phiếu và kiểm phiếu bầu cử được thực hiện như thế nào. Ảnh: Trần Anh.

Điều 71, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định, việc bỏ phiếu được bắt đầu từ 7 giờ sáng và kết thúc vào 19 giờ cùng ngày. Trong trường hợp cần thiết, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bỏ phiếu sớm hơn hoặc kéo dài thời gian nhưng không quá 21 giờ cùng ngày.

Trong ngày bầu cử, quy trình bỏ phiếu thường diễn ra theo các bước cơ bản sau:

Thứ nhất, khai mạc cuộc bỏ phiếu. Tổ trưởng Tổ bầu cử tuyên bố khai mạc, giới thiệu thành phần Tổ bầu cử, phổ biến nội quy phòng bỏ phiếu và nhắc lại quyền, nghĩa vụ của cử tri.

Thứ hai, cử tri nhận phiếu bầu. Sau khi xuất trình thẻ cử tri, cử tri được phát phiếu bầu tương ứng với từng cấp bầu cử (đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp). Cử tri vào buồng phiếu để tự mình lựa chọn đại biểu mà mình tín nhiệm.

Thứ ba, thực hiện bỏ phiếu kín. Cử tri gạch tên những người mình không tín nhiệm trong danh sách ứng cử viên, sau đó trực tiếp bỏ phiếu vào hòm phiếu. Nguyên tắc bỏ phiếu kín nhằm bảo đảm quyền tự do lựa chọn của cử tri.

Thứ tư, hỗ trợ cử tri trong trường hợp đặc biệt. Điều 69 của Luật cũng quy định: cử tri già yếu, khuyết tật hoặc không thể tự viết phiếu có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; nếu không thể đến phòng bỏ phiếu, Tổ bầu cử có thể mang hòm phiếu phụ đến nơi cư trú để cử tri thực hiện quyền bầu cử.

Việc tổ chức bỏ phiếu phải bảo đảm trật tự, an toàn, không để xảy ra vận động bầu cử trái phép hoặc tác động đến sự lựa chọn của cử tri.

Kiểm phiếu bầu cử: Công khai, chính xác và hoàn thành trong thời hạn luật định

Sau khi kết thúc việc bỏ phiếu, công tác kiểm phiếu được tiến hành theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của các cơ quan bầu cử.

Điều 73 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: việc kiểm phiếu phải được tiến hành ngay tại phòng bỏ phiếu, ngay sau khi kết thúc bỏ phiếu và chỉ do các thành viên Tổ bầu cử thực hiện.

Quy trình kiểm phiếu được thực hiện theo các bước sau:

Thứ nhất, tuyên bố kết thúc bỏ phiếu và chuẩn bị kiểm phiếu. Tổ trưởng Tổ bầu cử tuyên bố kết thúc việc bỏ phiếu. Hòm phiếu chỉ được mở sau thời điểm này và việc kiểm phiếu phải tiến hành tại phòng bỏ phiếu.

Thứ hai, kiểm kê việc sử dụng phiếu bầu. Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải lập biên bản kiểm kê phiếu bầu nhằm đối chiếu số lượng phiếu đã nhận, số phiếu phát ra, số phiếu cử tri đổi do gạch hỏng và số phiếu chưa sử dụng.

Việc kiểm tra được thực hiện theo nguyên tắc: Số phiếu Tổ bầu cử đã nhận = Số phiếu phát ra + Số phiếu đổi + Số phiếu chưa sử dụng.

Biên bản kiểm kê này được lập theo mẫu của Hội đồng bầu cử quốc gia và gửi đến các cơ quan liên quan để bảo đảm tính minh bạch.

Thứ ba, mở hòm phiếu và phân loại phiếu. Sau khi hoàn tất việc kiểm kê, Tổ bầu cử mở hòm phiếu và tiến hành phân loại phiếu theo từng loại bầu cử:

Phiếu bầu đại biểu Quốc hội;

Phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/thành phố;

Phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, phường, thị trấn;

Việc kiểm phiếu thường được thực hiện theo thứ tự: đại biểu Quốc hội trước, sau đó đến Hội đồng nhân dân các cấp.

Thứ tư, xác định phiếu hợp lệ và không hợp lệ. Điều 74 Luật Bầu cử quy định các trường hợp phiếu không hợp lệ, như: phiếu không đúng mẫu, phiếu gạch hết tên người ứng cử, phiếu ghi thêm tên người ngoài danh sách hoặc phiếu có ký hiệu riêng.

Sau khi phân loại, Tổ bầu cử tiến hành đếm số phiếu hợp lệ cho từng ứng cử viên.

Thứ năm, lập biên bản kiểm phiếu. Kết quả kiểm phiếu được lập thành biên bản theo mẫu thống nhất của Hội đồng bầu cử quốc gia. Biên bản ghi rõ:

Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu;

Số cử tri tham gia bỏ phiếu;

Tổng số phiếu phát ra;

Số phiếu hợp lệ, không hợp lệ;

Số phiếu của từng ứng cử viên;

Biên bản phải được lập thành nhiều bản, có chữ ký của các thành viên Tổ bầu cử và được niêm phong cùng các tài liệu liên quan.

Điều 73 của Luật cũng quy định việc kiểm phiếu phải hoàn thành chậm nhất trong vòng 24 giờ kể từ khi kết thúc bỏ phiếu, bảo đảm tiến độ công bố kết quả bầu cử.

Nhìn chung, từ khâu bỏ phiếu đến kiểm phiếu đều được pháp luật quy định chi tiết, nhằm bảo đảm tính dân chủ, công khai và minh bạch của cuộc bầu cử. Việc tuân thủ nghiêm túc quy trình này không chỉ giúp phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của cử tri mà còn góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với các cơ quan dân cử và hệ thống chính trị.

Chia sẻ
Gửi góp ý
Lưu bài Bỏ lưu bài
Theo Phi Long ([Tên nguồn])
Theo dòng sự kiện: Bầu cử Quốc hội 2026
Xem thêm
Bầu cử Quốc hội 2026 Xem thêm
Báo lỗi nội dung
GÓP Ý GIAO DIỆN