Lộ diện hình ảnh về dòng họ trí thức danh giá bậc nhất Việt Nam - Nguyễn Lân khiến ai cũng kính nể

Đại gia đình của cố Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân có dịp sum họp đông đủ, ghi dấu bằng bức ảnh nhiều thế hệ quây quần ấm áp.

Dòng họ trí thức danh giá bậc nhất Việt Nam, gia đình cố Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân

Trong cuộc gặp gỡ với PV Dân Việt mới đây, PGS.TS. Nguyễn Lân Hùng Sơn, hiện công tác tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thế hệ thứ ba của dòng họ trí thức Nguyễn Lân – đã vui vẻ chia sẻ bức ảnh mới nhất về gia đình.

Theo PGS Hùng Sơn, bức ảnh được chụp trong dịp Tết Nguyên đán 2026 vừa qua, ghi lại khoảnh khắc đông đủ con cháu sum họp, quây quần bên nhau.

Không chỉ là khoảnh khắc đoàn viên, phía sau bức ảnh đậm nét truyền thống hiếu học, nền nếp và những đóng góp bền bỉ của dòng họ trí thức nổi tiếng bậc nhất Việt Nam.

Các thế hệ con cháu của Cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân chụp ảnh trong dịp Tết Nguyên đán 2025. Ảnh: NVCC

Các thế hệ con cháu của Cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân chụp ảnh trong dịp Tết Nguyên đán 2025. Ảnh: NVCC

Theo PGS Nguyễn Lân Hùng Sơn, đại gia đình luôn giữ được sự gắn bó, đoàn kết qua nhiều thế hệ. Khi ông nội còn sống, con cháu duy trì thói quen gặp mặt mỗi tháng một lần. Hiện nay, vào tối 30 Tết, cả nhà lại sum họp thắp hương. Ngoài ra, các dịp giỗ, ngày Ông Táo và mùng 2 Tết, con cháu quây quần đông đủ.

Cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, nhà biên soạn từ điển, học giả nổi tiếng của Việt Nam Nguyễn Lân (1906-2003) đã trọn đời cống hiến cho nền giáo dục Việt Nam, là người có công lớn trong việc xây dựng bộ môn và khoa Tâm lý học, Giáo dục học của hệ thống các trường Sư phạm ở Việt Nam.

Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân sinh ra trong gia đình nghèo ở vùng bạc điền thuộc huyện Mỹ Hào, Hưng Yên. Sau này khi thi vào trường Bưởi, ông nhận được học bổng toàn phần. Năm 1925, khi còn là học sinh trung học, Nguyễn Lân đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên "Cậu bé nhà quê". Đó là một phần tự truyện về thời thơ ấu của ông. Cuốn tiểu thuyết này về sau được dịch sang tiếng Pháp và đến năm 1934 được xác định dùng làm sách giáo khoa cho học sinh.

Đại gia đình thắp hương cho cha ông. Ảnh: NVCC

Đại gia đình thắp hương cho cha ông. Ảnh: NVCC

Năm 1927, ông thi đỗ Thủ khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Năm 1932, tốt nghiệp thủ khoa của trường, ông về dạy học tại Trường Hồng Bàng (Hải Phòng); sau đó làm giám học và dạy 2 môn văn, sử tại Trường Thăng Long (Hà Nội). Tại Trường Tư thục Thăng Long, cùng với các nhà giáo giỏi như Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Bình... ông đã đào tạo được những tú tài xuất sắc cho Việt Nam.

Từ năm 1935 đến năm 1945, ông sinh sống tại Huế dạy học ở 3 trường Đồng Khánh, Quốc học và Bách công. Ông còn tích cực tham gia trong Hội truyền bá Quốc ngữ năm 1938.

Năm 1945, ông được Chính phủ Trần Trọng Kim mời làm Đốc lý ở Huế, ông đã chấp thuận với 2 yêu cầu: tuy làm đốc lý nhưng vẫn ăn lương nhà giáo và có giờ dạy học, không giao thiệp với người Nhật đang có mặt ở Huế lúc ấy. Thời gian này ông đã mở một lớp sư phạm, đồng thời tiến hành một số hoạt động hướng về cách mạng Việt Nam, ông đã mời các nhân sĩ ở Huế đến họp để đổi tên các đường phố từ tên tiếng Pháp sang tên tiếng Việt. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông được giao trọng trách Giám đốc Học chính Trung bộ.

Năm 1946 ông trở ra Hà Nội và dạy học tại Trường Chu Văn An. Được một thời gian, kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông đưa vợ con lên vùng Việt Bắc và được cử làm Giám đốc giáo dục Liên khu 10 gồm 6 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc), Tuyên Quang, Lào Cai và Hà Giang. Phương tiện đi lại thời đó chỉ với chiếc xe đạp, ông đã đạp xe đi hết các tỉnh trong Liên khu.

Sau đó, ông được cử làm Giám đốc giáo dục Liên khu Việt Bắc gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn. Thời kỳ này, ông liên tục được Bác Hồ gửi thư khen và Bằng khen “một giám đốc có tài”. Bác Hồ còn gửi tặng ông một bộ quần áo lụa (nay đang lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh). Năm 1951, ông được cử đi dạy học ở Khu học xá Nam Ninh tại tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc.

Năm 1956, ông về dạy và làm Chủ nhiệm Khoa Tâm lý giáo dục học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân đợt I (2001). Bên cạnh việc dạy học, GS. Nguyễn Lân còn tham gia nhiều hoạt động xã hội ở nhiều cương vị: Hội trưởng Hội văn hóa Trung bộ; Hội trưởng Hội Liên Việt khu 10; Ủy viên Thường vụ Đảng xã hội Việt Nam; Ủy viên Đoàn Chủ tịch MTTQ Việt Nam. Ở cương vị nào, GS cũng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Con cháu làm rạng danh dòng họ trí thức danh giá bậc nhất Việt Nam - Nguyễn Lân

Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tề - một người phụ nữ hiền, đẹp, nữ sinh trường Sainte Marie ở Hà Nội, là con gái nhà đại điền chủ Nguyễn Hữu Tiệp.

Các con trai và con dâu của cố Giáo sư Nguyễn Lân. Ảnh: NVCC

Các con trai và con dâu của cố Giáo sư Nguyễn Lân. Ảnh: NVCC

Không chỉ có Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân được cả Việt Nam biết đến, các đời con cháu của ông cũng làm rạng danh dòng họ. Dù theo đuổi những chuyên ngành khác nhau nhưng cả 8 người con - 7 trai và 1 gái - của cố GS Nguyễn Lân đều chọn nghề làm thầy cao quý, đó là thầy giáo và thầy thuốc. Cụ thể:

Con trai cả là GS TSKH - nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất, người Việt Nam đầu tiên được Tổng thống Nga phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Công huân Liên bang Nga năm 2001.

Người con thứ hai là tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (bà đã qua đời), nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

GS.TS, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng (người con thứ ba) là một trong những nhà khoa học đầu ngành vi sinh vật học, chuyên gia cao cấp Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học; đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII.

PGS.TS Nguyễn Lân Cường (người con thứ tư) là nghiên cứu viên cao cấp, chuyên gia đầu ngành của bộ môn Cổ nhân học; Phó Tổng Thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, từng là giảng viên thỉnh giảng Khoa Lịch sử - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Người con thứ năm là ông Nguyễn Lân Hùng, giữ chức Tổng Thư ký Hội Các ngành sinh học Việt Nam, từng là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

PGS.TS Nguyễn Lân Tráng (người con thứ sáu), giảng viên Bộ môn Hệ thống điện - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

GS.TS. thầy thuốc nhân dân Nguyễn Lân Việt (người con thứ bảy), Anh hùng lao động, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Lân Trung (người con út), nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Kể cả dâu, rể, dòng họ Nguyễn Lân có 4 giáo sư, 5 phó giáo sư, 11 tiến sĩ, thế hệ thứ ba có 3 phó giáo sư và 5 tiến sĩ. Thế hệ thứ tư tuy còn nhỏ nhưng đã có cháu dạy đại học và nhiều cháu đang học các trường đại học, các trường phổ thông danh tiếng.

Cứ đầu hè, 311 người trong đại gia đình ông Ngãi lại tổ chức lễ báo cáo thành tích học tập của con cháu và chuẩn bị cho chuyến du lịch chung của cả nhà.

Chia sẻ
Gửi góp ý
Lưu bài Bỏ lưu bài
Theo Tào Nga ([Tên nguồn])
Những chuyện gia đình Xem thêm
Báo lỗi nội dung
GÓP Ý GIAO DIỆN