Tân Thủ tướng Lê Minh Hưng và phép thử lớn của một nhà kỹ trị
Trao đổi với Dân Việt, ông Nguyễn Xuân Thành, giảng viên cao cấp, Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, phân tích lợi thế lớn của tân Thủ tướng Lê Minh Hưng nằm ở nền tảng điều hành vĩ mô được rèn giũa từ thời làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đến nay. Ở cương vị đứng đầu Chính phủ, thách thức không chỉ là ổn định hệ thống, mà là phối hợp kỹ trị, chính trị và cải cách để vừa giữ cân bằng vĩ mô, vừa tạo động lực tăng trưởng mới.
Chiều 7/4, Quốc hội khóa XVI thực hiện quy trình bầu Thủ tướng Chính phủ. Với 495/495 (100%) đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội thông qua Nghị quyết bầu ông Lê Minh Hưng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban tổ chức Trung ương, đại biểu Quốc hội khoá XVI giữ chức Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031.
Sau nghi thức tuyên thệ và phát biểu nhậm chức của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, nhiều chuyên gia đã đặt nhiều kỳ vọng.
Trao đổi với PV Dân Việt, ông Nguyễn Xuân Thành kỳ vọng với tân Thủ tướng Lê Minh Hưng, Chính phủ được vận hành theo tinh thần “kỹ trị” hơn, trong bối cảnh các mục tiêu phát triển của Việt Nam vừa đầy khát vọng, vừa đầy thách thức.
“Kỹ trị ở đây không chỉ là điều hành cứng rắn hay siết chặt kỷ luật hành chính. Điều quan trọng hơn là khả năng kiên định với ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời kiến tạo và khai thác các động lực tăng trưởng mới, từ đổi mới sáng tạo đến thúc đẩy năng suất. Một Thủ tướng có gốc rễ từ điều hành tiền tệ, có thể mang lại thứ mà nền kinh tế đang cần: những thay đổi chính sách dựa trên đánh giá khoa học và lợi ích chung dài hạn, thay vì các áp lực ngắn hạn”, ông Thành phân tích.
Những di sản thời làm Thống đốc
Tân Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng là mẫu người ưa hành động. Trên cương vị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trước đây, ông chưa từng trả lời phỏng vấn chính thức cơ quan báo chí theo nghĩa thông thường. Tác giả bài viết từng hỏi ông khi đang ở cương vị Thống đốc NHNN về việc vì sao không trả lời phỏng vấn và ông trả lời “Tôi không biết nói gì vì những gì cần làm thì tôi đã hành động rồi”. Chính phong cách lặng lẽ đó lại phù hợp với giai đoạn nền kinh tế Việt Nam phải đi qua nhiều cú sốc, khủng hoảng tiềm ẩn và rất ít dư địa cho những sai lầm chính sách.
Là người trưởng thành trong hệ thống ngân hàng, nhậm chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ở tuổi 46 (năm 2016) và là Thống đốc trẻ nhất Việt Nam cho đến nay. Với tư duy đổi mới, phong cách làm việc khoa học, quyết liệt, trong nhiệm kỳ làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ông Lê Minh Hưng đã dẫn dắt hệ thống ngân hàng vượt qua giai đoạn tái cơ cấu khó khăn, xử lý nợ xấu, củng cố kỷ luật thị trường tiền tệ, nắn dòng tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, ưu tiên, giúp ổn định vĩ mô, tái cơ cấu ngân hàng và thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định tỷ giá trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phát sinh những vấn đề như bệnh dịch… Khi phát sinh vấn đề, ông luôn quyết rất nhanh, vì "như vậy mới kịp giúp những người đang cần lúc này".
Giai đoạn 2016-2020, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng khá (GDP bình quân tăng 6-7%/năm), quy mô GDP năm 2020 đạt khoảng 268,4 -271,2 tỷ USD, dù chịu ảnh hưởng nặng nề của COVID-19. Mặc dù tăng trưởng tín dụng không cao nhưng tăng trưởng GDP đã tăng mạnh, đặc biệt là năm 2018 khi tăng trưởng tín dụng chỉ tăng 14% nhưng GDP đạt 7,08%, cao nhất trong 10 năm (kể từ năm 2008), vượt mục tiêu đề ra (6,5 - 6,7%). Năm 2019 tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 13,5% nhưng GDP đạt 7,02%. Điều đó cho thấy giai đoạn này, chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước rất linh hoạt nhằm ưu tiên sự ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát rủi ro hệ thống ngân hàng, nhưng đã nắn dòng tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên và sản xuất kinh doanh thay vì dàn trải. Đấy là lý do dù tăng trưởng tín dụng thấp nhưng vẫn giúp nền kinh tế đạt mức tăng trưởng GDP cao.
Di sản rõ nét nhất của tân Thủ tướng Lê Minh Hưng thời ở Ngân hàng Nhà nước không nằm ở những con số tăng trưởng, mà ở cuộc chiến dài hơi với nợ xấu, căn bệnh kinh niên của hệ thống tài chính Việt Nam. Khi nhậm chức Thống đốc, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng ở quanh ngưỡng nguy hiểm, tình trạng sở hữu chéo và ngân hàng yếu kém là những “quả mìn” có thể phát nổ bất cứ lúc nào.
Việc thúc đẩy và hiện thực hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã tạo ra một bước tiến pháp lý quan trọng khi lần đầu tiên, quyền của chủ nợ và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm được khẳng định tương đối rõ ràng. Con số hơn 1,1 triệu tỷ đồng nợ xấu được xử lý trong giai đoạn 2012–2020 không chỉ là một thống kê. Nó là thước đo cho một chiến lược kiên trì làm sạch bảng cân đối của hệ thống ngân hàng, điều kiện nền tảng để Việt Nam có thể nói đến những tham vọng lớn hơn về thị trường vốn, về tài chính cho đổi mới sáng tạo và về tăng trưởng dựa trên năng suất.
Với những kết quả đã đạt được của Nghị quyết 42 trong thời gian qua, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV năm 2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó có luật hoá quyền thu giữ tài sản đảm bảo (TSĐB).
Bên cạnh việc xử lý nợ xấu, một di sản quan trọng khác của ông Lê Minh Hưng là đặt những viên gạch đầu tiên cho quá trình nâng chuẩn quản trị ngân hàng theo thông lệ quốc tế thông qua việc triển khai Basel II. Đây là công việc khó, tốn thời gian và gần như không tạo hiệu ứng chính trị tức thời. Nhưng chính vì vậy, nó càng cho thấy tư duy điều hành thiên về nền tảng hơn là thành tích ngắn hạn.
Việc triển khai Basel II không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật. Nó buộc các ngân hàng phải nâng chuẩn quản trị rủi ro, cải thiện năng lực vốn, minh bạch hơn trong đánh giá tài sản và vận hành theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn. Tức là thay vì chỉ mở rộng quy mô, hệ thống ngân hàng phải học cách lớn lên một cách an toàn hơn.
Theo mạch phát triển đó, những bước đi từ giai đoạn ông Lê Minh Hưng đã tạo tiền đề để hệ thống ngân hàng đạt chuẩn Basel II vào năm 2025 và tiến tới Basel III trong chặng đường tiếp theo. Xa hơn, đây là nền móng quan trọng để hệ thống ngân hàng Việt Nam trở nên lành mạnh hơn, có khả năng vươn tầm khu vực, đồng thời đáp ứng các mục tiêu lớn hơn đặt ra trong các định hướng phát triển kinh tế theo định hướng Nghị quyết 79 về kinh tế Nhà nước và Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân của Bộ Chính trị.
Một dấu ấn của Tân Thủ tướng Lê Minh Hưng thời còn làm Thống đốc là dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng lên mức kỷ lục là 92 tỷ USD, cao hơn 13 tỷ USD so với cuối năm 2019.
Phép thử lớn của một nhà kỹ trị
Nếu giai đoạn ở Ngân hàng Nhà nước giúp tân Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng hiểu sâu về dòng tiền, rủi ro hệ thống và tâm lý thị trường, thì quãng thời gian công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng lại mang đến cho ông một lớp kinh nghiệm khác không kém phần quan trọng: hiểu cách bộ máy quyền lực vận hành, cũng như giới hạn và đòn bẩy của cải cách thể chế.
Với một nền kinh tế đang chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang giai đoạn bứt phá dựa trên năng suất, rào cản lớn nhất nhiều khi không nằm ở thiếu vốn, mà nằm ở “độ trễ” thể chế. Đó là nơi những quyết sách tốt nhất vẫn có thể bị làm chậm, thậm chí bị triệt tiêu, bởi thủ tục rườm rà, sự phân mảnh trách nhiệm và tâm lý sợ sai trong bộ máy thực thi.
Vai trò Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trở thành mảnh ghép thứ ba tạo nên hồ sơ “hiếm” có với một “nhà kỹ trị”. Đây là vị trí gắn với quyền lực và trách nhiệm trong việc “đặt đúng người, vào đúng chỗ”, yếu tố thường quyết định thành bại của mọi cuộc cải cách hành chính. Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và nâng hiệu quả điều hành, kinh nghiệm tổ chức nhân sự và sắp xếp hệ thống không kém phần quan trọng so với bất kỳ học thuyết kinh tế nào. Nói cách khác, nếu tiền tệ là “máu” của nền kinh tế, thì bộ máy hành chính là “mạch máu”: có bơm thêm vốn mà mạch tắc, nền kinh tế vẫn khó tăng tốc bền vững.
Chính sự kết hợp hiếm hoi giữa ba lớp kinh nghiệm: Tài chính tiền tệ, điều phối chính sách ở thượng tầng quyền lực và tổ chức bộ máy, ông Lê Minh Hưng được tín nhiệm rất cao vào cương vị Thủ tướng. Sự kết hợp này càng có ý nghĩa trong bối cảnh giai đoạn 2026–2031 được đặt trong mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Các yêu cầu đó bao gồm điều hành tiền tệ – tài khóa linh hoạt, hiệu quả; tháo gỡ điểm nghẽn cho sản xuất kinh doanh; khơi thông các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời tạo đột phá ở các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tập trung xử lý các dự án tồn đọng, các ngân hàng yếu kém; và bảo đảm sự lành mạnh, bền vững của hệ thống kinh tế – tài chính.
Song song với đó, mô hình tăng trưởng mới cũng được xác lập theo hướng phát triển nhanh nhưng bền vững, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; từng bước tự chủ công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược.
Trong cấu trúc đó, “ba đột phá chiến lược” gồm thể chế, hạ tầng và nhân lực tiếp tục được nhấn mạnh như trục dọc của cả nhiệm kỳ. Thể chế phải trở thành lợi thế cạnh tranh, giải phóng sức sản xuất, khơi thông nguồn lực; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Cùng lúc, hạ tầng chiến lược cũng phải được đẩy nhanh, từ giao thông, cảng biển đến đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Ở tầng chiến lược dài hạn hơn, hai nghị quyết đang được nhìn như “hai động cơ” của nền kinh tế giai đoạn mới, đó là Nghị quyết 79-NQ/TW (tháng 1/2026) về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 68-NQ/TW (tháng 5/2025) định hướng phát triển kinh tế tư nhân. Một mặt, kinh tế nhà nước được xác định giữ vai trò chủ đạo, tiên phong dẫn dắt, kiến tạo và bảo đảm ổn định vĩ mô. Mặt khác, kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng, với mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 và hàng loạt giải pháp tháo gỡ nút thắt về thể chế, tín dụng, thuế, thanh tra – kiểm tra và môi trường kinh doanh.
ThS Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách Công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (Ảnh: NVCC)
Ông Thành phân tích, công việc lớn nhất của người đứng đầu Chính phủ không chỉ là điều hành tiền tệ hay tài khóa, mà là cải thiện môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư. Điều đó bao gồm thực thi thực chất các nghị quyết về đổi mới sáng tạo, kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước; xóa bỏ các thủ tục rườm rà, các giấy phép con; kiểm soát độc quyền và thúc đẩy cạnh tranh. Một doanh nghiệp có thể lớn, nhưng vẫn phải lớn lên bằng cạnh tranh, cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế.
“Đây cũng là nơi mà “kỹ trị” và “chính trị” phải gặp nhau. Sau quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy, kỳ vọng đặt lên người đứng đầu Chính phủ là tạo động lực mới cho cả bộ máy và từng công chức nhà nước. Động lực ấy không chỉ đến từ bổ nhiệm, giao việc hay cải cách tiền lương, mà còn từ khả năng bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, biết làm. Song song với bảo vệ phải là nêu cao trách nhiệm: ai không hoàn thành công việc, hoặc chọn tâm lý an toàn để né việc, cũng cần bị thay đổi và điều chuyển. Đó mới là cách chuyển hóa kinh nghiệm từ một nhà điều hành kỹ trị sang một người lãnh đạo Chính phủ có thể vận hành cả hệ thống”, ông Thành bình luận.
Sau cùng, điều mà doanh nghiệp, người dân, chuyên gia và giới đầu tư chờ đợi ở tân Thủ tướng Lê Minh Hưng không phải là một phép màu chính sách. "Tân Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ được đo bằng khả năng giữ ổn định mà không trì trệ, cải cách mà không gây sốc, thúc đẩy tăng trưởng mà không đánh đổi nền tảng vĩ mô và mở rộng đầu tư công mà không chấp nhận dàn trải, lãng phí. Đó là phép thử của một người đứng đầu Chính phủ trong giai đoạn nền kinh tế cần cả bản lĩnh ổn định vĩ mô lẫn quyết tâm đổi mới", ông Thành bình luận.
Thủ tướng Lê Minh Hưng có gần 30 năm công tác trong ngành ngân hàng, từng làm Phó thống đốc, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chánh Văn phòng Trung ương...
Nguồn: [Link nguồn]
-07/04/2026 15:34 PM (GMT+7)




