Phát hiện vật liệu mới trên long bào vua Lê Dụ Tông

Sự kiện: Thời sự

Các nhà nghiên cứu phát hiện sợi lông công trên long bào vua Lê Dụ Tông (1679-1731), đồng thời tìm thấy dấu vết thêu sửa hoa văn rồng, vẽ màu sau khi dệt.

Tại Hội thảo thông báo khảo cổ học toàn quốc năm 2026 chiều 15/10 ở Hà Nội, ông Nguyễn Đức Hùng, thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết khảo sát hai hiện vật long bào Lê Dụ Tông lưu tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã nhận diện hệ thống vật liệu phong phú hơn những công bố trước đây. Trong đó có sợi lông công - vật liệu chưa từng được ghi nhận trong các nghiên cứu về vải sợi cổ Việt Nam.

Hai hiện vật mang số hiệu 37168 và 37169 được phát hiện trong cuộc khai quật mộ hợp chất Bái Trạch năm 1964. Nhóm hiện vật có giá trị đặc biệt đối với nghiên cứu trang phục cung đình, kỹ thuật dệt may và văn hóa vật chất Đại Việt thời Lê. Tuy nhiên, các nghiên cứu ban đầu chủ yếu mô tả hình thức, kích thước. Đến năm 2009, TS Nguyễn Việt cùng các nghệ nhân làng Vạn Phúc mới xác định phương thức thêu dệt và đề xuất phương án phục dựng.

Long bào vua Lê Dụ Tông. Ảnh: Nhóm nghiên cứu

Long bào vua Lê Dụ Tông. Ảnh: Nhóm nghiên cứu

Qua quan sát trực tiếp và soi kính hiển vi, nhóm nghiên cứu nhận diện ba loại sợi tơ, hai loại kim tuyến, sợi chỉ bện và sợi lông công. Các vật liệu được bố trí theo từng vị trí, chức năng: sợi tơ đơn tạo nền vải, kim tuyến tạo hoa văn chính, tơ se làm hoa văn phụ, còn chỉ bện và kim tuyến cỡ lớn được dùng để thêu. Sợi lông công tập trung ở những chi tiết nhỏ, tạo điểm nhấn cho hoa văn.

Phát hiện thú vị nhất là sợi lông công xuất hiện trên cả hai hiện vật, tại các chi tiết như hỏa châu, lông mày, mắt rồng chính và san hô. Theo nhóm nghiên cứu, đây là trường hợp đầu tiên được ghi nhận trong các nghiên cứu về hiện vật vải cổ tại Việt Nam.

Lông công không được sử dụng ở dạng nguyên trạng mà đã qua xử lý thành sợi dệt. Những sợi lông mảnh từ lông đuôi con công được loại bỏ phần ống, sau đó xoắn nối tiếp quanh lõi tơ. Nhờ màu xanh, đen tự nhiên và khả năng thay đổi sắc độ theo góc chiếu sáng, vật liệu này tạo hiệu ứng nổi bật trên các chi tiết hoa văn.

Kỹ thuật này có sự tương đồng với cách chế tạo "khổng tước sợi" trong nghề dệt vân cẩm Nam Kinh thời Minh - Thanh, từng xuất hiện trên long bào thời Vạn Lịch tại Định Lăng, Trung Quốc. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng những điểm tương đồng về cấu tạo và phương thức chế tạo mới là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, chưa đủ khẳng định nguồn gốc xuất xứ của vật liệu trên long bào vua Lê Dụ Tông.

Các chi tiết dệt bằng sợi lông công trên long bào vua Lê Dụ Tông. Ảnh: Nhóm nghiên cứu

Các chi tiết dệt bằng sợi lông công trên long bào vua Lê Dụ Tông. Ảnh: Nhóm nghiên cứu

Bên cạnh sợi lông công, nghiên cứu còn nhận diện hai dạng kim tuyến được sử dụng trong dệt hoa văn, gồm loại xoắn tròn gọi là viên kim tuyến và loại dẹt gọi là phiến kim tuyến. Theo tư liệu Trung Quốc, phiến kim tuyến được tạo bằng cách dát vàng mỏng trên giấy rồi cắt thành dải. Viên kim tuyến được hình thành bằng cách quấn dải kim tuyến quanh lõi tơ.

Trên hiện vật số hiệu 37168, nhóm nghiên cứu còn phát hiện loại viên kim tuyến lớn hơn, dùng để thêu chằng chặn. Lớp giấy vàng của loại sợi này dày và trắng hơn kim tuyến dùng trong dệt. Tại nhiều vị trí, đường kim tuyến thêu đè lên hoa văn dệt, ép nền vải tạo thành rãnh để đường viền nằm lọt vào.

Dấu tích này giúp xác định các công đoạn chế tác gồm dệt hoa văn chính, thêu chi tiết bổ sung, thêu chằng chặn bằng kim tuyến lớn, vẽ màu rồi cắt may. Tuy nhiên, những phát hiện tiếp theo cho thấy trình tự này có thể phức tạp hơn, với các công đoạn được thực hiện xen kẽ.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu phát hiện dấu vết người xưa chủ ý thay đổi hình dạng hoa văn rồng sau khi dệt. Trên hiện vật 37168, phần lớn hoa văn được tạo bằng kỹ thuật dệt, nhưng một số chi tiết được thêu bổ sung, thậm chí làm biến đổi hình dạng ban đầu.

Theo ông Nguyễn Đức Hùng, trường hợp rõ nhất là mũi rồng lớn trên thân áo. Khi quan sát mặt trái, nhóm nghiên cứu nhận thấy mũi rồng được dệt theo kiểu tương tự hình rồng trên vai. Tuy nhiên, ở mặt phải, lớp thêu đè lên vị trí này tạo thành hình dạng khác hẳn, trong khi một phần hoa văn dệt cũ vẫn lộ ra ở những chỗ chưa bị che kín.

Chi tiết thêu đè lên long bào. Ảnh: Nhóm nghiên cứu

Chi tiết thêu đè lên long bào. Ảnh: Nhóm nghiên cứu

Hai bên mũi rồng cũng không cân xứng do một bên bị lớp thêu phủ lên. Đặc biệt, dấu mực phác hình dạng mũi rồng mới vẫn còn trên thân áo, cho thấy việc thay đổi hoa văn có chủ ý. Sau khi chỉnh sửa, mũi rồng trên thân áo có hình dáng gần với rồng trên ống tay hơn, song lý do chỉ điều chỉnh một số vị trí mà không áp dụng đồng nhất trên các hình rồng vẫn chưa được xác định.

Ngoài mũi rồng, các chi tiết như răng, đường sống mũi, ria và chòm râu trên những hình rồng lớn ở thân trước, thân sau cũng được thêu thêm, làm thay đổi hình thái hoa văn ban đầu. Nhóm nghiên cứu nhận định đây không chỉ là những chi tiết thêu bổ sung mà còn có trường hợp thêu nhằm điều chỉnh hoa văn đã dệt. Mục đích của việc chỉnh sửa cần được nghiên cứu thêm, bởi có thể liên quan đến quan niệm thẩm mỹ hoặc tư tưởng của người đương thời.

Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện dấu vết vẽ màu xanh đen trên cả hoa văn dệt và thêu. Ở những vị trí màu đã phai, sắc độ gần với màu chàm, song thành phần màu chưa được xác định. Quan sát dưới kính hiển vi cho thấy màu phủ lên bề mặt sợi, có chỗ lem sang sợi bên cạnh, trong khi mặt trái phần lớn vẫn giữ màu tơ nguyên bản. Điều này cho thấy màu được tô sau công đoạn dệt, thêu, thay vì tạo ra từ những sợi đã nhuộm màu.

Màu được phân bố ở nhiều chi tiết như ngấn bụng, vây lưng, lông mày và con ngươi rồng. Riêng cụm thủy ba dưới gấu áo, các đường vẽ màu được bố trí theo quy luật, đối xứng ở hai vạt trước và sau. Sự kết hợp giữa dệt, thêu, vẽ màu và chỉnh sửa hoa văn cho thấy hình thức long bào hiện nay là kết quả của nhiều công đoạn tạo tác, không đơn thuần phản ánh thiết kế ban đầu.

Theo nhóm nghiên cứu, các phát hiện mở ra hướng tìm hiểu sâu hơn về kỹ thuật dệt may, quan niệm thẩm mỹ, quy chế trang phục cung đình, nguồn cung ứng vật liệu và mạng lưới trao đổi kỹ thuật giữa Đại Việt với Trung Hoa trong thế kỷ XVIII. Nhóm đề xuất tiếp tục phân tích thành phần vật liệu, định tuổi và so sánh với các mẫu chuẩn để làm rõ nguồn gốc, trình tự chế tác, qua đó xác định chính xác hơn hoa văn nguyên bản và phục dựng long bào.

Mộ vua Lê Dụ Tông được người dân tình cờ phát hiện tháng 2/1958 tại thôn Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân cũ, Thanh Hóa, khi đào đất làm vườn. Đầu năm 1964, do hoạt động sản xuất địa phương đe dọa sự an toàn của ngôi mộ, Bộ Văn hóa cho phép khai quật, đưa các hiện vật về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam để lưu giữ và nghiên cứu.

Ngày 2/4/1964, quan tài được mở trước sự chứng kiến của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng đại diện các cơ quan chuyên môn. Ngoài di hài nhà vua, cuộc khai quật thu được nhiều đồ tùy táng, trong đó có các lớp trang phục cung đình, cung cấp tư liệu quý về kỹ thuật dệt may và trang phục thời Lê.

Sau hơn 45 năm được bảo quản tại bảo tàng, thi hài vua Lê Dụ Tông được đưa về Thanh Hóa hoàn táng ngày 11/12/2009, theo chủ trương được cấp có thẩm quyền đồng ý trong năm đó. Việc hoàn táng diễn ra tại khu vực Bái Trạch, nơi phát hiện ngôi mộ, trong khi nhiều hiện vật thu được từ cuộc khai quật tiếp tục được lưu giữ, nghiên cứu tại bảo tàng.

Với sự tinh xảo trong nghệ thuật tạo tác thời Lý, sưu tập đầu phượng thời Lý gồm 5 hiện vật được làm từ đất nung đã được công nhận bảo vật quốc gia.

Chia sẻ
Gửi góp ý
Lưu bài Bỏ lưu bài
Theo Gia Chính ([Tên nguồn])
Thời sự Xem thêm
Báo lỗi nội dung
GÓP Ý GIAO DIỆN